Phần 1: Kích cầu kiểu Việt Nam
![]() |
Gói hỗ trợ lãi suất 4% để kích thích kinh tế trong năm 2009 đã gây nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế. Ảnh: Lê Toàn. |
Nhìn lại và phân tích các gói kích thích kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ để thấy rõ hơn ta đã làm gì, nước khác làm khác ta ra sao và mục tiêu dài hạn của giải pháp này là gì. Liệu Việt Nam đã tính hết những rủi ro từ chính sách chưa và giải pháp tiếp theo ra sao? TBKTSG xin giới thiệu bài phân tích của GS.TS. Trần Ngọc Thơ và ông Hồ Quốc Tuấn (nghiên cứu sinh tiến sĩ) để giải đáp vấn đề đặt ra.
Trong năm 2009, nhiều “gói kích thích kinh tế” (economic stimulus package), hay như báo chí trong nước gọi là các gói kích cầu, được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới để giúp nền kinh tế khỏi rơi vào suy thoái nặng nề do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Mỗi một nước, do đặc thù của mình và do mức độ ảnh hưởng, đã lựa chọn cách thức và đối tượng để “cứu giúp” khác nhau. Việt Nam, tất nhiên là không ngoại lệ. Điểm qua những kiểu kích cầu của Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam Đặc điểm của gói kích cầu của khối Anh-Mỹ là ra đời sau một gói cứu trợ ngành ngân hàng. Do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ khu vực các nước phát triển, tác động đặc biệt to lớn lên những thị trường tài chính Anh - Mỹ, nên các nước này phải lựa chọn giải pháp ứng cứu ngành kinh doanh bị tổn thất nặng nề trước và hy vọng giảm nhẹ tác động lây lan của nó. Sau khi tạm thời bình thường hóa được hoạt động của khối ngân hàng, các nước này mới đưa ra chương trình kích thích kinh tế của mình. Đặc điểm của gói kích thích này là nhắm vào kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng vào giảm các dòng thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, hoãn nộp thuế cho doanh nghiệp...). Nhìn chung, các gói kích thích kinh tế kiểu Mỹ và châu Âu nhắm vào duy trì vào tái tạo việc làm - thị trường bị tác động nặng nề trong khủng hoảng và làm ảnh hưởng đến tổng cầu xã hội, cố gắng kích cầu cá nhân. Các khoản hỗ trợ thuế trực tiếp cho doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong gói kích thích kinh tế này. Có thể gọi, đây là trường phái kích cầu tiêu dùng cá nhân trực tiếp (trước gói kích cầu này Mỹ đã từng đưa ra một chương trình kích cầu là đập xe cũ mua xe mới - clash for clunkers). Kích cầu kiểu Trung Quốc là một chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ. Phần lớn nhất chương trình kích cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính khoảng 586 tỉ đô la Mỹ (khoảng 12% GDP năm 2009 của Trung Quốc) nhắm vào xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông (trong đó các chương trình xây dựng các tuyến xe lửa rất gây ấn tượng với các nước phương Tây), xây dựng hạ tầng nông thôn, tái thiết sau động đất. Phần còn lại của gói kích cầu này nhắm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lượng và môi trường. Gói kích cầu này không đi trực tiếp vào hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng cũng không đi trực tiếp vào nâng sức cầu nội địa, mà là nhắm vào chi tiêu cho các dự án hạ tầng lớn và lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn. Đặc điểm nổi bật của gói kích cầu của Việt Nam nằm ở hai gói hỗ trợ lãi suất. Gói kích cầu của Việt Nam cũng có điểm tương đồng với gói kích cầu phương Tây là hỗ trợ thuế (theo ước tính của WB gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trị giá 9.900 tỉ đồng, cao gấp đôi so với hỗ trợ cho thuế thu nhập cá nhân). Mặc dù không được chỉ ra rõ ràng, nhiều khoản mục hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 cũng nhắm vào một số loại cơ sở hạ tầng, như tạm ứng ngân sách 2010 cho một số dự án, chuyển nguồn đầu tư từ kế hoạch 2008 sang 2009. Tuy nhiên nổi bật nhất và có tác động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam vẫn là hai gói hỗ trợ lãi suất của Việt Nam, trong đó câu chuyện 17.000 tỉ đồng hỗ trợ 4% cho lãi suất ngắn hạn (mà theo ước tính khi ban hành là sẽ tạo ra một lượng tín dụng 600.000 tỉ đồng cho nền kinh tế) thu hút nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế của Việt Nam, trong đó có ý kiến cho rằng đây là kích cung chứ không phải kích cầu. Đây là kích cầu qua hỗ trợ lãi suất hay trợ giá lãi suất (WB dùng từ “interest rate subsidy” để nói về chương trình này). Đặc điểm đáng chú ý của gói kích cầu này là kết hợp chi tiêu tài khóa (để trợ giá) với chính sách tiền tệ - vì xem như đã giảm lãi suất thực hiệu lực của các khoản vay từ doanh nghiệp đi một mức 4% nữa, một chính sách giảm lãi suất trong khu vực kinh doanh chứ không cho toàn nền kinh tế - đồng thời tiền hỗ trợ lãi suất lấy từ dự trữ ngoại hối chứ không phải ngân sách. Mô hình kích cầu của Việt Nam còn có một đặc điểm đáng chú ý nữa là việc Chính phủ vay nợ thương mại 1 tỉ đô la Mỹ thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và sau đó phân bổ lại cho khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Biện pháp này đã tạo ra hai hệ lụy là hỗ trợ lãi suất nhiều tầng cho DNNN (vừa dẫn đến kìm hãm hệ thống tài chính và vừa dẫn đến tâm lý ỷ lại của khu vực DNNN) và tạo ra hiệu ứng chèn lấn (crowding out) đối với khu vực tư nhân. Kết quả của chính sách này là khu vực kinh tế tư nhân sẽ bị chèn lấn văng ra khỏi một số lĩnh vực đầu tư do họ phải nhận mức lãi suất cao hơn khu vực DNNN. Hơn nữa, kênh phát hành trái phiếu quốc tế lại là kênh hỗ trợ vốn và lãi suất dài hạn nên hiệu ứng chèn lấn này mới đáng lo ngại. Khi nền kinh tế phục hồi, khu vực tư nhân vẫn bị hiệu ứng chèn lấn này ảnh hưởng nên sẽ khiến chi tiêu và đầu tư tư nhân phục hồi chậm ở một số lĩnh vực. Những khác biệt: chọn chiến thuật theo thực lực Mô hình kích cầu của khối Anh - Mỹ diễn ra sau một gói cứu trợ hệ thống ngân hàng, trong đó gói cứu trợ ngành ngân hàng của Mỹ lên đến 700 tỉ đô la. Sau đó, hệ thống này mới tiến hành gói kích cầu kinh tế. Trong khi đó, mô hình của nhóm Việt Nam - Trung Quốc là không có gói hỗ trợ ngân hàng. Nguyên nhân là vì khủng hoảng tài chính không tác động trực tiếp đến nhóm ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc, ngân hàng không bị thua lỗ do các khoản nợ thứ cấp và các khoản đầu tư tài chính. Khủng hoảng ở Mỹ tác động trước tiên là đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, góp phần làm bất ổn kinh tế nên Mỹ phải giải quyết vấn đề này trước. Tiếp theo họ phải gia tăng tổng cầu nội địa và tạo ra việc làm mới vì tổng cầu sụt giảm là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ suy yếu. Trung Quốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì nước này chọn dựa vào nguồn cầu nội địa để vượt khủng hoảng chứ không chọn dựa vào nguồn cầu nước ngoài quá nhiều để kích thích tăng trưởng trong bối cảnh thị trường xuất khẩu thế giới đang xấu đi. Theo số liệu của WB, nguồn cầu nội địa đã góp phần lớn nâng đỡ kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2009, trong đó đầu tư vào dự án hạ tầng của chính phủ đóng vai trò chính để thúc đẩy tăng trưởng. Số liệu của Trung Quốc cho thấy trong khi tình hình việc làm tiếp tục xấu đi trong khu vực xuất khẩu và cũng ảm đạm trong khu vực công nghiệp (do một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, nhôm có dấu hiệu dư thừa công suất và buộc chính phủ phải “can thiệp”), việc làm mới được tạo ra nhiều trong khu vực dịch vụ, xây dựng và khu vực nhà nước. Rõ ràng trong năm 2009, Trung Quốc dùng phương thức kích thích kinh tế hướng vào chi tiêu rất lớn cho các dự án hạ tầng để tạo ra việc làm và nâng đỡ tăng trưởng. Ở góc độ tạo ra việc làm mới một cách trực tiếp thông qua các chương trình chi tiêu của chính phủ, chúng ta tìm thấy sự tương đồng ở Trung Quốc và Mỹ. Trong khi đó, mô hình tăng trưởng của Việt Nam lại bị ảnh hưởng nhiều bởi tổng cầu nước ngoài do phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, do đó bản thân Việt Nam không lựa chọn tăng tổng cầu nội địa mà chọn duy trì nhân tố được chính phủ đánh giá là quan trọng của nền kinh tế là các doanh nghiệp sản xuất trong nước (mà phần không nhỏ là các DNNN) và doanh nghiệp nhắm về xuất khẩu. Việt Nam vì vậy đã thực hiện việc duy trì một thị trường việc làm ổn định thông qua hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Có kích cung hay không thì có thể cần bàn nhưng rõ ràng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giảm thiểu phá sản và thất nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì qua cơn nguy khó chờ sức cầu tăng lại là một quyết định tạm cho là thành công cho đến lúc này. Một cách nào đó, chúng ta đã đặt cược vào khả năng khôi phục của sức cầu từ bên ngoài hơn là tự tạo ra sức cầu mới bên trong nền kinh tế. Đây có thể nói là một lựa chọn phòng thủ thay vì tấn công như trong bóng đá. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế giống như kiểu một trận đấu đang bế tắc, Trung Quốc và Mỹ lựa chọn tìm kiếm giải pháp tấn công mới, mô hình hỗ trợ (tạo tăng trưởng GDP mới), khai thông thế trận mới, trong khi Việt Nam lựa chọn phòng thủ và duy trì lối chơi truyền thống (mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào xuất khẩu), chờ đợi cơ hội. Khó có thể nói là lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, vì vấn đề còn phụ thuộc vào thực lực của từng đội. Liệu rằng ngân sách của Việt Nam có thể bền vững nếu lựa chọn giải pháp như Mỹ và Trung Quốc? Trong bóng đá phải dựa vào thực lực của cầu thủ mình để lựa chọn chiến thuật. Thể lực không đủ thì sao có thể thực hiện bóng đá tổng lực? Nhưng thực lực đủ mà không dám đá tổng lực thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội đáng tiếc.
Phần 2: Lựa chọn chính sách và hệ lụy
Mỗi chính sách đều có mặt mạnh, mặt yếu của nó. Trong khi Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ các tham vọng đầu tư vào các yếu tố tạo ra sức cạnh tranh dài hạn trong các gói kích cầu (như bài trước đã phân tích), Việt Nam lại không đặt ra mục tiêu dài hạn rõ ràng trong gói kích cầu.
Việt Nam và Trung Quốc: chính phủ “định hướng” phân bổ vốn
Một kết quả có thể nhận thấy là ở cả Việt Nam và Trung Quốc đều có một sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn tín dụng nội địa (tín dụng cho nền kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 tăng gần 38% trong khi tín dụng mới cho nền kinh tế của Trung Quốc tăng khoảng 30%, tín dụng trung và dài hạn nước này tăng 42%).
Vị trí đặt quảng cáoNguyên nhân là vì các dự án của Trung Quốc do chính phủ chỉ đạo thực hiện nhận được nguồn hỗ trợ vốn từ chính phủ nên có thể xin vay ngân hàng. Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB), các khoản vay hướng tới hỗ trợ thực hiện các dự án kích thích kinh tế đóng vai trò chủ chốt trong việc kích thích nguồn tín dụng nội địa của Trung Quốc tăng mạnh kể từ tháng 11-2008.
Còn ở Việt Nam, Chính phủ quyết định dùng 17.000 tỉ đồng để hỗ trợ lãi suất cho một số đối tượng doanh nghiệp, với mục tiêu hướng đến là hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền tín dụng được cung cấp ra cho các đối tượng doanh nghiệp này. Như vậy, ở Việt Nam, Chính phủ đã đóng vai trò định hướng phân phối nguồn vốn, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian dịch vụ hỗ trợ. Các tiêu chí và đối tượng phân phối vốn là do Nhà nước chỉ định.
Sự khác biệt trong cách kích cầu dẫn đến khác biệt trong mẫu hình tăng trưởng tín dụng. Người Mỹ vẫn duy trì quan điểm để thị trường vốn tự phân phối nguồn vốn và chỉ hỗ trợ cho ngân hàng để ngân hàng đóng vai trò chủ động đánh giá dự án và ra quyết định phân phối vốn. Sau đó, ngân hàng không chịu phân bổ vốn nữa thì chính phủ mới phải trực tiếp thực hiện các chi tiêu ngân sách để tạo việc làm, nhưng vẫn để lại quyền quyết định phân bổ vốn cho ngân hàng. Điều này khiến việc vay tiền ở Mỹ vẫn khó khăn và tăng trưởng tín dụng chậm.
Trung Quốc thì gián tiếp chi phối quyết định phân bổ vốn cho ngân hàng bằng những chương trình kích thích kinh tế khổng lồ, tạo ra nhiều dự án để người thực hiện dự án đến xin vay dễ dàng hơn ở ngân hàng. Trong khi đó, tiền của Chính phủ Việt Nam đổ vào để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, ngân hàng đóng vai trò trung gian nên ngân hàng phải cho vay được, hỗ trợ được khách cho vay thì ngân hàng mới có lợi (ít nhất là trong việc giữ quan hệ với khách hàng).
Như vậy, phương thức kích cầu của Việt Nam có tính định hướng đối tượng phân bổ vốn rõ ràng hơn, nhưng lại không định hướng dòng vốn sẽ chảy đi đâu một cách rõ ràng như Trung Quốc. Cách thức của Trung Quốc hướng dòng vốn vào thẳng các dự án hạ tầng và kích thích kinh tế, Việt Nam hướng được dòng vốn vào doanh nghiệp nhưng khó đảm bảo dòng vốn sau đó sẽ chảy đi đâu, vào sản xuất, vào nhà đất hay vào chứng khoán.
Các phương thức đều có mặt yếu và mạnh của nó. Nếu vốn Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho ngân hàng Mỹ thì họ phải tuân thủ một số ràng buộc khắt khe và tiền là tiền của ngân hàng vay nên họ phải tính toán kỹ lưỡng. Hệ quả là tín dụng của Mỹ tăng chậm, ngân hàng Mỹ lo tích lũy vốn để đề phòng rủi ro, dẫn đến tình trạng gần đây có những bài bình luận về tình trạng “thừa tiền” của ngân hàng Mỹ, trong khi kinh tế Mỹ vẫn thiếu vốn nghiêm trọng.
Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam hay Trung Quốc định hướng dòng vốn tín dụng - dù cơ chế có khác nhau, nên sẽ xuất hiện, có nhiều khả năng xảy ra những thất thoát và trục lợi trong việc phân phối vốn. Cả ở Việt Nam và Trung Quốc đều đã xuất hiện những cảnh báo về khả năng phân bổ sai các nguồn tín dụng, dẫn đến nợ xấu và bong bóng giá cả. Một tín hiệu đáng lo ngại là mặc dù tín dụng của Việt Nam và Trung Quốc đều tăng mạnh, ở cả hai nước này đều xuất hiện những than phiền là nguồn vốn tín dụng vẫn khan hiếm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ và ở nông thôn.
Đâu là các mục tiêu dài hạn?
Một vấn đề nổi bật là trong khi Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ các tham vọng đầu tư vào các yếu tố tạo ra sức cạnh tranh dài hạn trong các gói kích cầu, chúng ta không tìm ra được một yếu tố nổi cộm về các đầu tư dài hạn của Việt Nam trong gói kích cầu. Với những khoản chi cho y tế, giáo dục và khoa học, Mỹ ghi nhận một trong những mục tiêu quan trọng của đạo luật ARRA là nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế và tạo ra các yếu tố tăng trưởng dài hạn cho nước này, chứ không chỉ là yếu tố ngắn hạn về việc làm và tăng trưởng.
Trong khi đó, không thể phủ nhận tham vọng của Trung Quốc với các chương trình đường sắt, sân bay và cầu cảng của mình. Một bài báo gần đây trên tờ The Economist cho thấy tham vọng của Trung Quốc không chỉ là một hệ thống đường xe lửa cao tốc gần 19.000 dặm (khoảng 30.000 ki lô mét) tới năm 2015 để kết nối 70-80% đô thị trên 500.000 dân ở Trung Quốc, mà còn là việc tiếp thu toàn bộ công nghệ hiện đại này (các công ty nước ngoài muốn thắng thầu phải chấp nhận chuyển giao công nghệ).
Như vậy, người Trung Quốc không chỉ là bỏ tiền xây đường sắt mà còn học cách xây nó với tham vọng sẽ xuất khẩu công nghệ này sau đó. Tờ The Economist đã cảnh báo lợi nhuận mà các công ty phương Tây thu được trong việc xây dựng và chuyển giao các tuyến đường sắt này trong tương lai có thể trở thành cái giá mà họ phải trả. Có thể cảnh báo này đã quá lo xa, nhưng cho thấy những chi tiêu của Trung Quốc không chỉ là hạ tầng, mà còn là khả năng công nghệ.
Trong khi đó, Việt Nam có mục tiêu dài hạn nào cho các chính sách kích cầu của mình? Không rõ ràng. Lý do là vì chúng ta chọn giải pháp phòng thủ và chèn lấn [ngay trên phần sân nhà]. Ngoài việc chèn lấn và dẫn đến làm suy giảm tiêu dùng cũng như đầu tư của khu vực tư nhân, chúng ta vẫn tiến hành phòng thủ bằng cách giữ nguyên mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu, chờ thời và mong mỏi xuất khẩu tăng trở lại, không giải phóng sức sản xuất mới và sức cầu trong nước, cũng như không gỡ nút thắt cho những “vấn đề muôn năm cũ”: thủ tục hành chính, cơ cấu kinh tế, giải quyết thủ tục cho xây dựng cơ bản, cơ sở hạ tầng... Những chi tiêu cho dự án cấp bách trong gói kích thích kinh tế liệu có dỡ bỏ được hay dựng thêm nhiều “lô cốt” trong nền kinh tế?
Và đâu là hệ quả?
Một hệ quả dễ thấy đầu tiên là những gói kích cầu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP sẽ tạo ra “những quả bong bóng ngân sách”, và nước nào chi càng nhiều thì càng gặp rủi ro và gánh nặng ngân sách lớn. Hiện tại sự lo ngại về một sự khủng hoảng ngân sách sẽ xảy ra không phải là thừa tại nhiều nước châu Âu.
Vấn đề này là một sự lựa chọn có tính đánh đổi. Một gói kích cầu đầy tham vọng của Trung Quốc có những rủi ro rất lớn của nó. Một số bài báo quốc tế đánh giá tình trạng hiện tại của Trung Quốc là cầu cảng, đường cao tốc, đường sắt, sân bay và nhà máy thép tràn lan. WB lo ngại không biết những dự án kích cầu sẽ được tài trợ ra sao, và bao nhiêu khoản vay hướng vào các dự án này sẽ trở thành nợ xấu. Cũng không ai biết khi các dự án đó hình thành thì tiền ở đâu sẽ được chi ra cho chi phí bảo trì những dự án khổng lồ đó.
Như vậy rủi ro cho hệ thống ngân hàng và ngân sách của Trung Quốc là rất lớn, khiến cho nhiều người dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ sớm trở thành một quả bong bóng mới và sẽ vỡ tung không lâu nữa. Nhưng cũng có không ít bình luận từ các nhà phân tích tài chính và kinh tế cho rằng những lo ngại đó là thừa. Vì Trung Quốc vẫn còn một tiềm năng lớn chưa được khai thác hết và những công trình đó sẽ giải phóng một sức sản xuất mới và tăng năng suất của nền kinh tế một cách đáng kể. Ai cũng có lý, và có lẽ đây cũng chỉ là một quyết định đầu tư đầy rủi ro, lợi nhuận cao, rủi ro cao. Như đã phân tích ở trên, chọn lựa chiến thuật mà phù hợp trình độ thì sẽ thành công, ngược lại, sẽ thất bại thê thảm.
Nhưng một vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam là mặc dù đã chi ra một lượng ngân sách không nhỏ, thậm chí là động viên tới nguồn lực của quỹ dự trữ ngoại hối, chúng ta lại không đặt ra một mục tiêu dài hạn nào cụ thể. Như vậy, khác với Trung Quốc và Mỹ, chúng ta đang chỉ hướng tới một mục tiêu lợi ích ngắn hạn trong khi lại đặt mình vào một rủi ro dài hạn đối với sức ép ngân sách và cân bằng của nền kinh tế tương tự như hai nước kia. Mục tiêu dài hạn của chúng ta xem ra vẫn chỉ là những kêu gọi dùng hàng Việt Nam và vẫn đẩy mạnh nền kinh tế hướng về xuất khẩu, chứ không giải quyết được gốc rễ của việc “sính hàng ngoại”, không đầu tư vào một dự án kích thích dùng hàng Việt Nam trong dài hạn. Một chiến lược đầu tư chỉ chọn thu về lợi ích ngắn hạn và vẫn duy trì chấp nhận rủi ro dài hạn có là khôn ngoan?
Phương thức kích cầu của Việt Nam còn có một hệ quả khác với hai nước kia là nó đóng vai trò kìm hãm lãi suất trong nền kinh tế ở một mức thấp giả tạo hơn thông qua các khoản hỗ trợ lãi suất nhiều tầng. Nếu không có nguồn vốn của chính phủ bơm vào thì các khoản vay trong thời điểm có nhiều rủi ro sẽ phải có lãi suất cao hơn. Tuy nhiên việc duy trì lãi suất cơ bản thấp và bơm tiền cho doanh nghiệp qua kênh cho vay kích cầu đã khiến mặt bằng lãi suất bị kìm hãm. Đến các tháng cuối năm hệ quả tạo ra là mặt bằng lãi suất huy động đã bị “kịch trần”. Giai đoạn này lại trùng với giai đoạn căng thẳng thanh khoản hàng năm của các ngân hàng nên đẩy các ngân hàng vào những căng thẳng tiền mới và chính phủ buộc phải gia tăng cung tiền trên thị trường mở để hỗ trợ ngân hàng - quay trở lại giải pháp ban đầu của Mỹ.
Điều này sẽ tạo ra một áp lực lạm phát cao hơn khi sức cầu tư nhân khôi phục còn các doanh nghiệp, bất kể có hiệu quả hay không do không có hỗ trợ lãi suất nữa, phải tìm cách chuyển phần chi phí không hiệu quả sang người tiêu dùng bằng cách tăng giá. Kết quả là có hai kịch bản: nếu sức cầu không tăng tương ứng thì các doanh nghiệp không hiệu quả sẽ phá sản (theo đại diện Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội, hiện đang có một lượng hàng tồn kho khá lớn, nên nếu không bán được thì nhiều doanh nghiệp sẽ lâm vào kiệt quệ tài chính). Vậy nghĩa là giải pháp kích cầu của Chính phủ trong năm ngoái chỉ là nỗ lực làm chậm tiến trình phá sản của các doanh nghiệp yếu kém.
Còn kịch bản thứ hai là nếu sức cầu trong và ngoài nước đối với hàng hóa - dịch vụ của Việt Nam tăng trở lại thì giá cả phải tăng theo và tín dụng sẽ quay lại căng thẳng với một mặt bằng lãi suất thấp. Khi đó các doanh nghiệp có đầu ra nhưng lại thiếu vốn vì ngân hàng không muốn cho vay với lãi suất thấp, nghĩa là sẽ tạo áp lực tăng lãi suất cơ bản và tăng giá. Nếu kịp thời tăng lãi suất cơ bản thì sẽ giải quyết được tình trạng tăng giá, loại bỏ bớt những doanh nghiệp không hiệu quả trên thị trường đồng thời kìm hãm bớt sức nóng của thị trường chứng khoán và nhà đất.
Ngược lại, thì sẽ tạo ra một tình trạng tài sản tài chính và giá cả tăng ào ạt trong khi ngân hàng thì thiếu vốn cho vay vì tiền không chạy vào ngân hàng. Đương nhiên tăng lãi suất cũng có hiệu ứng phụ của nó, vì sẽ khiến nhiều người vay tiền gặp rủi ro lãi suất dẫn đến thua lỗ, và có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Thật ra, không có lựa chọn nào là không trả giá. Vấn đề là cái giá nào là cao hơn.
Lời kết
Kết quả hiện nay tạm cho thấy Việt Nam đã an toàn vượt qua khủng hoảng mà không có phá sản ngân hàng, ít phá sản doanh nghiệp và gia tăng thất nghiệp. Nhưng thực tế thì việc phá sản ngân hàng của Mỹ là do các khoản vay trở xấu khiến ngân hàng thua lỗ quá mức. Ở Việt Nam vốn dĩ không có những tài sản tài chính “độc hại”, cho vay mua nhà cũng chưa đến mức như Mỹ, do đó sự suy thoái của thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán chưa đến mức tạo ra khủng hoảng ngay lập tức cho hệ thống ngân hàng tuy vẫn có một giai đoạn thanh khoản cạn kiệt do tình hình giải chấp.
Mặt khác hệ thống thông tin của Việt Nam chưa đầy đủ, và cấu trúc thị trường nhà ở chưa hoàn chỉnh, nên không nắm bắt được con số thực tế những người làm nghề môi giới nhà đất tự do và những khoản vay ngoài hệ thống ngân hàng để mua nhà. Do đó, tổn thất theo số liệu báo cáo của các ngân hàng có thể đã được đánh giá thấp (chưa kể ngân hàng không báo cáo số liệu thực tế). Do vậy, không thể dựa vào tình thế để kết luận về sự thành công của chính sách kích cầu.
Một điều có thể nhận thấy qua những phân tích trong bài viết là lựa chọn gói kích cầu của Chính phủ là điều chỉnh theo mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu, dựa vào sức cầu bên ngoài của Việt Nam. Gói kích cầu không có những mục tiêu dài hạn rõ ràng trong khi vẫn chấp nhận rủi ro tương tự như những nước khác về ngân sách. Vì vậy, thiết nghĩ, bước đi tiếp theo của Việt Nam không phải là một gói kích cầu tương tự như vậy nữa, mà cần là một gói cải cách kinh tế thật sự để xây dựng những chương trình dài hạn nhằm cải thiện mô hình tăng trưởng của Việt Nam cho cân bằng hơn và hướng tới giải quyết những “nút cổ chai” trong nền kinh tế.
(Tác giả: Trần Ngọc Thơ - Đại học Kinh tế TPHCM và Hồ Quốc Tuấn - Đại học Manchester, Anh // Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chuyển nhượng, cho thuê hoặc hợp tác phát triển nội dung trên các tên miền:
Quý vị quan tâm xin liên hệ: tieulong@6vnn.com